VNHNSáu tháng đầu năm 2026, Bắc Ninh đạt tăng trưởng GRDP trên 10% và dẫn đầu cả nước về kim ngạch xuất khẩu. Kết quả này phản ánh hiệu quả của mô hình phát triển dựa trên công nghiệp chế biến, chế tạo và hội nhập chuỗi giá trị toàn cầu, đồng thời khẳng định vị thế của địa phương như một cực tăng trưởng mới của nền kinh tế.
I. BẮC NINH KHẲNG ĐỊNH VỊ THẾ CỰC TĂNG TRƯỞNG TRONG BỐI CẢNH KINH TẾ NHIỀU BIẾN ĐỘNG
Kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều bất định, từ xu hướng gia tăng bảo hộ thương mại, xung đột địa chính trị, biến động giá nguyên liệu, chi phí logistics đến quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, các nền kinh tế có độ mở lớn đều chịu những tác động đáng kể. Đối với Việt Nam, yêu cầu duy trì tốc độ tăng trưởng cao song song với nâng cao chất lượng tăng trưởng, củng cố năng lực cạnh tranh và tăng cường khả năng chống chịu của nền kinh tế đang đặt ra những yêu cầu mới đối với công tác điều hành phát triển ở từng địa phương. Nhiều địa phương vẫn duy trì được đà tăng trưởng tích cực không chỉ phản ánh hiệu quả của các chính sách phát triển kinh tế mà còn cho thấy năng lực thích ứng ngày càng cao trước các biến động bên ngoài.
Nổi lên trong bức tranh chung ấy, Bắc Ninh tiếp tục khẳng định vai trò là một trong những địa phương tăng trưởng năng động của cả nước. Sáu tháng đầu năm 2026, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của tỉnh ước tăng khoảng 10,56% so với cùng kỳ, thuộc nhóm các địa phương đạt mức tăng trưởng hai con số. Cùng với tốc độ tăng trưởng tích cực, quy mô nền kinh tế tiếp tục được mở rộng, tạo nền tảng quan trọng để Bắc Ninh duy trì vị thế là trung tâm công nghiệp, sản xuất và xuất khẩu của vùng Đồng bằng sông Hồng cũng như vùng Thủ đô.
Ý nghĩa của những con số tăng trưởng không chỉ nằm ở tốc độ gia tăng của GRDP mà còn phản ánh chất lượng của mô hình phát triển. Tăng trưởng của Bắc Ninh được hình thành trên nền tảng công nghiệp chế biến, chế tạo phát triển theo hướng hiện đại, với sự hiện diện của nhiều tập đoàn công nghệ lớn, hệ thống doanh nghiệp phụ trợ ngày càng hoàn thiện và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu. Đồng thời, môi trường đầu tư, kinh doanh tiếp tục được cải thiện thông qua việc đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả phục vụ doanh nghiệp, thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý nhà nước và tăng cường đối thoại nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Cùng với đó, công tác điều hành kinh tế được triển khai theo hướng linh hoạt, chủ động bám sát diễn biến thị trường, qua đó góp phần duy trì niềm tin của nhà đầu tư và bảo đảm tính ổn định của môi trường phát triển.
Dưới góc độ lý luận phát triển vùng, cực tăng trưởng được hiểu là không gian kinh tế tập trung các ngành, lĩnh vực có năng suất và giá trị gia tăng cao, có khả năng thu hút mạnh các nguồn lực đầu tư, đổi mới công nghệ và tạo hiệu ứng lan tỏa đối với các khu vực lân cận. Theo cách tiếp cận này, sự phát triển của một cực tăng trưởng vừa được đo bằng quy mô kinh tế hay tốc độ tăng trưởng mà còn được đánh giá thông qua năng lực dẫn dắt chuỗi sản xuất, thúc đẩy liên kết vùng và tạo động lực cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Những năm gần đây, cùng kết quả tăng trưởng tích cực của sáu tháng đầu năm 2026, Bắc Ninh đang ngày càng hội tụ đầy đủ các đặc trưng của một cực tăng trưởng công nghiệp quan trọng của vùng Thủ đô và cả nước. Vai trò này củng cố nâng cao sức cạnh tranh của chính địa phương, hỗ trợ động lực lan tỏa đối với mạng lưới công nghiệp, dịch vụ và đổi mới sáng tạo trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, đóng góp tích cực vào mục tiêu tăng trưởng bền vững của nền kinh tế quốc gia.

II. CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN, CHẾ TẠO VÀ XUẤT KHẨU – HAI TRỤ CỘT TẠO NÊN ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG
Khu vực công nghiệp tiếp tục khẳng định vai trò là động lực tăng trưởng chủ đạo của kinh tế Bắc Ninh. Sáu tháng đầu năm 2026, khu vực công nghiệp – xây dựng tăng khoảng 12,55%, trong đó riêng ngành công nghiệp tăng 12,73%, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng gần 20% so với cùng kỳ. Với tỷ trọng khoảng 70% GRDP, công nghiệp không chỉ là khu vực đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng mà còn quyết định năng lực cạnh tranh và vị thế của tỉnh trong nền kinh tế quốc gia. Những con số này phản ánh xu hướng phát triển ổn định của nền sản xuất công nghiệp trong bối cảnh nhiều ngành kinh tế trên thế giới vẫn chịu tác động từ suy giảm nhu cầu tiêu dùng, biến động thương mại và quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu.
Điều đáng chú ý là động lực tăng trưởng của Bắc Ninh không đến từ sự mở rộng của các lĩnh vực mang tính chu kỳ như bất động sản hay khai thác tài nguyên, mà chủ yếu được tạo nên từ khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo theo hướng công nghệ cao. Đây là khu vực có khả năng tạo giá trị gia tăng lớn, sử dụng công nghệ hiện đại, gắn kết chặt chẽ với mạng lưới sản xuất toàn cầu và có sức lan tỏa mạnh đối với các ngành dịch vụ, logistics, tài chính, đào tạo nguồn nhân lực cũng như hệ thống doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ. Chính đặc điểm này giúp tăng trưởng của Bắc Ninh mang tính thực chất hơn, dựa trên năng lực sản xuất thay vì các yếu tố ngắn hạn của thị trường.
Từ góc độ kinh tế học phát triển, công nghiệp chế biến, chế tạo luôn được xem là khu vực giữ vai trò trung tâm trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại. Tạo ra sản lượng lớn, khu vực này còn thúc đẩy đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất lao động, hình thành các cụm liên kết ngành và tăng cường khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Thực tế phát triển của nhiều nền kinh tế công nghiệp mới ở Đông Á cho thấy, sự phát triển bền vững thường bắt đầu từ việc xây dựng một nền công nghiệp chế biến, chế tạo có năng lực cạnh tranh quốc tế, sau đó lan tỏa sang các lĩnh vực dịch vụ chất lượng cao và kinh tế tri thức. Bắc Ninh đang vận động theo quỹ đạo phát triển này khi lấy sản xuất công nghiệp hiện đại làm nền tảng cho tăng trưởng dài hạn.
Sự tăng trưởng mạnh của chỉ số sản xuất công nghiệp cũng cho thấy năng lực sản xuất của doanh nghiệp trên địa bàn tiếp tục được duy trì ở mức cao. Thành quả này ngoài được hình thành từ sự phát triển về quy mô sản xuất mà còn từ những chuyển biến tích cực trong chất lượng môi trường đầu tư, sự đồng bộ của hạ tầng công nghiệp và hiệu quả của các chính sách cải cách hành chính, hỗ trợ doanh nghiệp, thu hút đầu tư được thực hiện một cách xuyên suốt. Các tập đoàn đa quốc gia tiếp tục điều chỉnh mạng lưới sản xuất để đa dạng hóa chuỗi cung ứng, Bắc Ninh đã tận dụng tốt lợi thế về vị trí địa lý, nguồn nhân lực và hệ sinh thái công nghiệp để duy trì sức hấp dẫn đối với dòng vốn đầu tư trong lĩnh vực công nghệ cao.
Nếu công nghiệp là động lực trực tiếp của tăng trưởng thì hoạt động xuất khẩu chính là chỉ báo phản ánh năng lực cạnh tranh của nền sản xuất địa phương trên thị trường quốc tế. Sáu tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu của Bắc Ninh đạt khoảng 52,5 tỷ USD, tiếp tục đứng đầu cả nước. Đồng thời, kim ngạch nhập khẩu cũng tăng gần 40% so với cùng kỳ. Hai chỉ số này cần được nhìn nhận trong mối quan hệ hữu cơ thay vì tách biệt. Đối với một trung tâm sản xuất công nghiệp định hướng xuất khẩu, nhập khẩu nguyên vật liệu, linh kiện và thiết bị là điều kiện đầu vào của quá trình sản xuất, còn xuất khẩu là kết quả đầu ra của chuỗi giá trị sản xuất đó.
Theo logic vận hành của nền sản xuất công nghiệp hiện đại, khi các doanh nghiệp mở rộng đơn hàng và tăng công suất, nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu, linh kiện và máy móc sẽ gia tăng trước. Sau quá trình sản xuất, khối lượng hàng hóa hoàn thiện được xuất khẩu ra thị trường quốc tế sẽ tiếp tục tăng theo. Vì vậy, việc cả nhập khẩu và xuất khẩu cùng tăng mạnh là dấu hiệu cho thấy chu kỳ sản xuất đang được mở rộng, phản ánh sức sống của khu vực sản xuất chứ không đơn thuần là sự gia tăng hoạt động thương mại. Điều này khác với những nền kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào hoạt động trung chuyển hoặc thương mại thuần túy, nơi tăng trưởng xuất nhập khẩu chưa chắc phản ánh sự phát triển của năng lực sản xuất trong nước.
Đối với Bắc Ninh, sự tăng trưởng đồng thời của xuất khẩu và nhập khẩu cho thấy các nhà máy trên địa bàn vẫn duy trì hoạt động với cường độ cao, đồng thời tiếp tục mở rộng sản xuất để đáp ứng nhu cầu của thị trường quốc tế. Đây là tín hiệu tích cực trong bối cảnh thương mại toàn cầu còn nhiều biến động, bởi nó phản ánh niềm tin của các tập đoàn sản xuất đối với môi trường đầu tư, khả năng đáp ứng đơn hàng cũng như tính ổn định của chuỗi cung ứng tại địa phương. Đồng thời, quy mô xuất khẩu lớn cũng góp phần cải thiện cán cân thương mại, tạo nguồn thu ngoại tệ và thúc đẩy tăng trưởng của các ngành dịch vụ hỗ trợ như logistics, tài chính, vận tải và bảo hiểm.
Ở góc độ sâu hơn, quy mô xuất khẩu liên tục duy trì ở nhóm dẫn đầu cả nước cho thấy Bắc Ninh không còn chỉ là địa bàn tập trung các cơ sở gia công đơn lẻ mà đang từng bước trở thành một mắt xích quan trọng trong mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Việc hàng hóa của tỉnh hiện diện tại các thị trường lớn như Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Trung Quốc và Hồng Kông phản ánh khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng và quản trị sản xuất ngày càng cao. Điều kiện quan trọng này để doanh nghiệp duy trì vị thế trong bối cảnh các yêu cầu về tiêu chuẩn môi trường, trách nhiệm xã hội, truy xuất nguồn gốc và chuyển đổi xanh ngày càng trở thành tiêu chí bắt buộc trong thương mại quốc tế.
Bắc Ninh cũng cho thấy sự hiện diện của các tập đoàn công nghệ và điện tử lớn như Samsung, Canon, Amkor hay Foxconn đã góp phần hình thành hệ sinh thái sản xuất quy mô lớn, tạo hiệu ứng lan tỏa đối với doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, dịch vụ logistics và thị trường lao động chất lượng cao. Mặc dù giá trị gia tăng nội địa vẫn cần tiếp tục được nâng cao thông qua phát triển doanh nghiệp trong nước và tăng tỷ lệ nội địa hóa, song việc các tập đoàn đa quốc gia tiếp tục mở rộng đầu tư đã khẳng định năng lực của Bắc Ninh trong việc đáp ứng các yêu cầu khắt khe về hạ tầng, nhân lực, môi trường đầu tư và khả năng kết nối chuỗi cung ứng quốc tế.
III. TỪ TĂNG TRƯỞNG NHANH ĐẾN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
Những kết quả tăng trưởng đạt được trong thời gian qua cho thấy Bắc Ninh đang sở hữu nền tảng phát triển tương đối vững chắc, với khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo giữ vai trò hạt nhân và hoạt động xuất khẩu tiếp tục duy trì vị trí dẫn đầu cả nước. Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh giữa các địa phương không còn chỉ dựa trên tốc độ tăng trưởng mà ngày càng phụ thuộc vào chất lượng phát triển, khả năng đổi mới sáng tạo và sức chống chịu của nền kinh tế. Yêu cầu đặt ra đối với Bắc Ninh không chỉ là duy trì mức tăng trưởng cao mà còn phải từng bước chuyển hóa các lợi thế hiện có thành động lực phát triển bền vững.
Mô hình phát triển hiện nay đã tạo ra những chuyển biến quan trọng đối với kinh tế – xã hội của tỉnh. Quy mô nền kinh tế không ngừng được mở rộng, đưa Bắc Ninh trở thành một trong những trung tâm công nghiệp và xuất khẩu lớn nhất cả nước. Sự phát triển mạnh mẽ của khu vực sản xuất đã góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của địa phương, tạo dựng môi trường đầu tư ổn định và hấp dẫn đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Quá trình mở rộng sản xuất cũng tạo thêm nhiều việc làm, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, góp phần cải thiện thu nhập của người dân cũng như tăng nguồn thu ngân sách để đầu tư trở lại cho hạ tầng, giáo dục, y tế và an sinh xã hội.
Nhìn từ yêu cầu phát triển dài hạn, mô hình tăng trưởng hiện nay cũng bộc lộ một số vấn đề cần được nhận diện đầy đủ. Mức độ phụ thuộc tương đối lớn vào khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Trong nhiều năm qua, khu vực này giữ vai trò chủ lực trong tăng trưởng công nghiệp, xuất khẩu và thu hút vốn đầu tư. Điều đó góp phần tạo nên tốc độ tăng trưởng cao nhưng cũng đặt ra yêu cầu phải nâng cao khả năng liên kết với khu vực doanh nghiệp trong nước. Nếu sự kết nối giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước không được tăng cường, nền kinh tế địa phương sẽ khó nâng cao giá trị gia tăng nội địa cũng như năng lực tự chủ trong chuỗi sản xuất.
Mặc dù số lượng doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ đã có sự gia tăng, song phần lớn doanh nghiệp nội địa vẫn có quy mô nhỏ, năng lực công nghệ và quản trị còn hạn chế, khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế chưa đồng đều. Vì vậy, tỷ lệ doanh nghiệp Việt Nam tham gia trực tiếp vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia còn khiêm tốn, trong khi nhiều linh kiện, nguyên liệu và thiết bị phục vụ sản xuất vẫn phải nhập khẩu. Điều này khiến giảm tỷ lệ nội địa hóa mà còn hạn chế khả năng gia tăng giá trị trong nước và khiến nền sản xuất chịu ảnh hưởng nhiều hơn trước những biến động của chuỗi cung ứng toàn cầu. Phát triển công nghiệp hỗ trợ vì vậy không chỉ là yêu cầu của ngành công nghiệp mà còn là điều kiện để nâng cao chất lượng tăng trưởng và tăng cường tính bền vững của nền kinh tế địa phương.
Bên cạnh đó, tốc độ công nghiệp hóa nhanh cũng tạo ra áp lực ngày càng lớn đối với hạ tầng và không gian phát triển. Nhu cầu mở rộng các khu công nghiệp, khu công nghệ cao và trung tâm logistics đòi hỏi địa phương phải có quỹ đất phù hợp, hạ tầng giao thông đồng bộ và khả năng kết nối vùng hiệu quả. Công tác giải phóng mặt bằng, đầu tư hạ tầng logistics, kết nối giữa các khu công nghiệp với cảng biển, sân bay và các tuyến giao thông chiến lược vẫn cần tiếp tục được hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Nếu những điểm nghẽn này không được tháo gỡ kịp thời, chi phí sản xuất và logistics có thể gia tăng, làm giảm lợi thế cạnh tranh và ảnh hưởng đến khả năng thu hút các dự án đầu tư quy mô lớn, đặc biệt là các dự án công nghệ cao có yêu cầu khắt khe về hạ tầng.
IV. KẾT LUẬN
Kết quả tăng trưởng GRDP trên 10% cùng với việc tiếp tục dẫn đầu cả nước về kim ngạch xuất khẩu cho thấy Bắc Ninh đã vượt ra khỏi vai trò của một địa phương phát triển công nghiệp theo nghĩa truyền thống để từng bước khẳng định vị thế của một cực tăng trưởng có sức lan tỏa đối với vùng Thủ đô và nền kinh tế quốc gia. Những thành tựu đạt được phản ánh hiệu quả của chiến lược phát triển dựa trên công nghiệp chế biến, chế tạo và thu hút đầu tư, cho thấy năng lực hội nhập ngày càng sâu vào chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu. Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động, việc duy trì tốc độ tăng trưởng cao, mở rộng quy mô sản xuất và giữ vững năng lực cạnh tranh quốc tế là minh chứng cho khả năng thích ứng và điều hành phát triển kinh tế theo hướng chủ động, linh hoạt của địa phương.
Sự chuyển dịch của chuỗi cung ứng toàn cầu, yêu cầu ngày càng cao về công nghệ, chuyển đổi xanh và đổi mới sáng tạo đang đặt ra những đòi hỏi mới đối với các trung tâm công nghiệp. Vì vậy, Bắc Ninh cần tiếp tục phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước, tăng cường liên kết giữa khu vực FDI với doanh nghiệp nội địa, đồng thời đầu tư đồng bộ cho hạ tầng logistics, hạ tầng số và kết nối vùng. Những giải pháp này nhằm duy trì sức hấp dẫn của môi trường đầu tư mà còn là nền tảng để nâng cao giá trị gia tăng nội địa, tăng cường khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các biến động bên ngoài. Với định hướng đó, Bắc Ninh có cơ sở để tiếp tục giữ vững vai trò là trung tâm sản xuất, xuất khẩu hàng đầu của cả nước, đồng thời đóng góp ngày càng lớn vào mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới./.
Ths. Hà Anh
Nguồnvietnamhoinhap.vn