VNHNTrong nền kinh tế số, khả năng tiếp cận và khai thác thông tin đang trở thành yếu tố quyết định năng lực đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp của thanh niên. Với cách tiếp cận lấy “giảm nghèo thông tin” làm điểm khởi đầu, Bắc Ninh từng bước hình thành hệ sinh thái hỗ trợ khởi nghiệp toàn diện, mở rộng cơ hội phát triển cho người trẻ, đồng thời tạo nền tảng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và sức cạnh tranh của địa phương.
I. GIẢM NGHÈO THÔNG TIN – ĐIỀU KIỆN TIÊN QUYẾT ĐỂ THANH NIÊN KHỞI NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
Kinh tế số, kinh tế tri thức và chuyển đổi số đang trở thành động lực tăng trưởng chủ yếu của nhiều quốc gia, thông tin ngày càng giữ vai trò là một nguồn lực chiến lược đối với phát triển kinh tế – xã hội. Nếu trước đây lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp chủ yếu dựa trên vốn, lao động và tài nguyên thì hiện nay, khả năng tiếp cận, phân tích và khai thác thông tin mới là yếu tố quyết định năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng thích ứng trước những biến động của thị trường. Nhiều nghiên cứu của OECD và Ngân hàng Thế giới đều chỉ ra rằng dữ liệu và thông tin đã trở thành nền tảng của nền kinh tế số, góp phần nâng cao năng suất, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tạo ra các mô hình kinh doanh mới. Điều đó cho thấy thông tin không còn đơn thuần là phương tiện hỗ trợ quản lý mà đã trở thành một dạng “vốn vô hình”, tạo ra giá trị và lợi thế cạnh tranh cho cá nhân, doanh nghiệp cũng như nền kinh tế.
Đối với hoạt động khởi nghiệp, giá trị của nguồn lực thông tin càng trở nên rõ nét. Khởi nghiệp trong nền kinh tế số không chỉ đòi hỏi ý tưởng sáng tạo mà còn yêu cầu khả năng nhận diện nhu cầu thị trường, lựa chọn công nghệ, tiếp cận nguồn vốn, tuân thủ các quy định pháp lý và xây dựng mạng lưới hợp tác. Mỗi quyết định từ hình thành ý tưởng đến thương mại hóa sản phẩm đều dựa trên chất lượng của thông tin mà chủ thể khởi nghiệp có thể tiếp cận và khai thác. Vì vậy, năng lực thông tin trở thành một trong những điều kiện quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp khởi nghiệp ngay từ giai đoạn đầu.
Thực tiễn cho thấy rào cản lớn đối với nhiều thanh niên hiện nay không phải là thiếu khát vọng hay thiếu ý tưởng sáng tạo mà là tình trạng “nghèo thông tin”. Lượng thông tin ngày càng dồi dào, nghèo thông tin còn được hiểu là không biết tìm kiếm ở đâu, không đủ năng lực lựa chọn những nguồn thông tin đáng tin cậy, không biết khai thác và chuyển hóa thông tin thành quyết định kinh doanh, đồng thời thiếu khả năng kết nối với các chủ thể trong hệ sinh thái khởi nghiệp.
Những hạn chế này được thể hiện khá rõ trong quá trình khởi nghiệp của thanh niên. Nhiều dự án chưa được xây dựng trên cơ sở phân tích đầy đủ nhu cầu thị trường và xu hướng tiêu dùng; nhiều nhóm khởi nghiệp chưa nắm rõ các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, chưa biết cách tiếp cận các quỹ đầu tư, nguồn vốn ưu đãi hoặc các chương trình hỗ trợ đổi mới sáng tạo. Bên cạnh đó, không ít thanh niên còn gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin về sở hữu trí tuệ, đăng ký doanh nghiệp, tiêu chuẩn sản phẩm hay các quy định pháp lý liên quan. Đặc biệt, việc thiếu kết nối với đội ngũ chuyên gia, cố vấn, doanh nghiệp và nhà đầu tư khiến nhiều ý tưởng tiềm năng không được hoàn thiện hoặc không thể thương mại hóa. Điều này lý giải vì sao nhiều dự án khởi nghiệp dừng lại ở mức ý tưởng dù có tính sáng tạo và khả năng ứng dụng.
Tình trạng nghèo thông tin cũng làm giảm hiệu quả của nhiều chính sách hỗ trợ khởi nghiệp. Trong những năm gần đây, hệ thống cơ chế, chính sách về phát triển doanh nghiệp, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã được hoàn thiện với nhiều chương trình hỗ trợ về tài chính, đào tạo, tư vấn và kết nối đầu tư. Khoảng cách giữa chính sách và đối tượng thụ hưởng vẫn còn khá lớn khi nhiều thanh niên chưa biết đến các chương trình hỗ trợ hoặc chưa đủ kỹ năng để tiếp cận và khai thác hiệu quả các nguồn lực này. Một chính sách dù được thiết kế tốt cũng khó phát huy tác dụng nếu người thụ hưởng thiếu thông tin hoặc thiếu năng lực sử dụng thông tin.
Từ góc độ phát triển, giảm nghèo thông tin cần được xem là điểm khởi đầu của chính sách hỗ trợ khởi nghiệp. Bởi khi thiếu thông tin, thanh niên sẽ không nhận diện được cơ hội thị trường; không nắm được chính sách thì khó tiếp cận vốn và các chương trình hỗ trợ; không kết nối được với chuyên gia và doanh nghiệp thì khó hoàn thiện mô hình kinh doanh. Chuỗi hạn chế này làm gián đoạn quá trình chuyển hóa từ ý tưởng thành doanh nghiệp và làm giảm hiệu quả của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Do đó, giảm nghèo thông tin không chỉ là hoạt động truyền thông hay phổ biến kiến thức, mà là chính sách phát triển năng lực, giúp thanh niên tiếp cận bình đẳng với tri thức, nguồn lực và các cơ hội phát triển. Chính từ nhận thức này, Bắc Ninh đã lựa chọn xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp bắt đầu từ việc phát triển hệ sinh thái thông tin, tạo nền tảng kết nối thanh niên với chính sách, thị trường, chuyên gia và các nguồn lực đổi mới sáng tạo, qua đó nâng cao chất lượng và tính bền vững của hoạt động khởi nghiệp trong nền kinh tế số.

II. BẮC NINH XÂY DỰNG HỆ SINH THÁI KHỞI NGHIỆP TRÊN NỀN TẢNG GIẢM NGHÈO THÔNG TIN
Đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với phát triển kinh tế số và đổi mới sáng tạo, nhiều địa phương đã chuyển từ cách tiếp cận hỗ trợ khởi nghiệp theo từng chương trình riêng lẻ sang xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp có tính liên kết và bền vững. Xu hướng này phản ánh sự thay đổi trong tư duy hoạch định chính sách, từ việc tập trung giải quyết những khó khăn trước mắt của doanh nghiệp sang tạo lập môi trường giúp các chủ thể có đủ điều kiện để phát triển lâu dài. Trên tinh thần đó, Bắc Ninh đã ban hành Đề án hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp giai đoạn 2026–2030 với định hướng xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp toàn diện, trong đó giảm nghèo thông tin được xác định là nền tảng kết nối các nguồn lực phát triển. Thay vì chỉ hỗ trợ vốn hoặc tổ chức các hoạt động mang tính phong trào, địa phương đồng thời triển khai các giải pháp về đào tạo, tư vấn, kết nối chuyên gia, truyền thông, chuyển đổi số và hỗ trợ tiếp cận chính sách. Cách tiếp cận này cho thấy sự chuyển dịch từ tư duy “hỗ trợ” sang tư duy “trao năng lực”, phù hợp với quan điểm phát triển năng lực (Capability Approach) của Amartya Sen, theo đó mục tiêu của chính sách không chỉ là cung cấp nguồn lực mà quan trọng hơn là mở rộng khả năng để mỗi cá nhân chủ động lựa chọn và tạo dựng cơ hội phát triển.
Điểm nổi bật trong mô hình của Bắc Ninh là coi thông tin như một mắt xích trung tâm của toàn bộ hệ sinh thái khởi nghiệp. Thông tin không tồn tại độc lập mà được gắn kết với các nguồn lực thiết yếu như tín dụng, đào tạo, tư vấn, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ pháp lý và kết nối thị trường. Nhờ đó, người khởi nghiệp không chỉ tiếp cận được các chính sách hỗ trợ mà còn được hướng dẫn cách khai thác hiệu quả các nguồn lực phù hợp với từng giai đoạn phát triển của dự án. Thực tế triển khai cho thấy địa phương đã hỗ trợ phát triển 414 dự án khởi nghiệp, huy động khoảng 169 tỷ đồng đầu tư cho các dự án, tạo việc làm cho hơn 2.000 lao động, trong đó 319 dự án vẫn đang duy trì hoạt động. Những con số này phản ánh quy mô của hoạt động hỗ trợ, cho thấy hiệu quả của cách tiếp cận dựa trên xây dựng hệ sinh thái.
Yếu tố tạo nên sự khác biệt là thông tin đã được tích hợp với các nguồn lực phát triển khác, hình thành một chuỗi hỗ trợ liên tục thay vì những biện pháp đơn lẻ. Khi thanh niên được tiếp cận thông tin đầy đủ về thị trường, cơ chế chính sách, thủ tục pháp lý và các chương trình hỗ trợ, khả năng tiếp cận vốn cũng trở nên thuận lợi hơn. Khi được kết nối với chuyên gia, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp, họ có điều kiện hoàn thiện mô hình kinh doanh, nâng cao năng lực quản trị và giảm thiểu rủi ro trong quá trình khởi nghiệp. Theo logic đó, thông tin đóng vai trò như cầu nối giữa chính sách của Nhà nước với người khởi nghiệp, đồng thời kết nối người khởi nghiệp với các nguồn lực về tài chính, công nghệ, tri thức và thị trường. Chính sự liên thông này giúp các chính sách hỗ trợ được chuyển hóa thành kết quả phát triển thực chất thay vì dừng lại ở việc ban hành cơ chế.
Một điểm đáng chú ý khác là Bắc Ninh ngoài việc truyền tải thông tin theo mô hình một chiều còn hướng tới xây dựng hệ sinh thái thông tin có khả năng tương tác và chia sẻ tri thức. Nếu trước đây hoạt động truyền thông chủ yếu thông qua các kênh như cổng thông tin điện tử, báo chí hoặc mạng xã hội nhằm phổ biến chính sách, thì hiện nay thông tin được tổ chức thành một mạng lưới kết nối đa chiều giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp, trường đại học, tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp, nhà đầu tư và đội ngũ chuyên gia. Cùng với các nền tảng số, địa phương chú trọng xây dựng cơ sở dữ liệu về khởi nghiệp, phát triển mạng lưới cố vấn, tổ chức các diễn đàn, cuộc thi ý tưởng sáng tạo, chương trình tư vấn chuyên sâu và các hoạt động kết nối doanh nghiệp. Nhờ đó, người khởi nghiệp không chỉ tiếp nhận thông tin mà còn có cơ hội trao đổi kinh nghiệm, tìm kiếm đối tác, mở rộng quan hệ hợp tác và tiếp cận các nguồn lực mới.
Mô hình này có nhiều điểm tương đồng với kinh nghiệm của một số quốc gia có hệ sinh thái đổi mới sáng tạo phát triển. Tại Singapore, chương trình Startup SG được xây dựng trên cơ sở kết nối đồng bộ giữa thông tin, đào tạo, cố vấn, tài chính và thị trường nhằm tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp khởi nghiệp. Hàn Quốc phát triển Startup Korea thông qua mạng lưới hỗ trợ tích hợp giữa Nhà nước, trường đại học và khu vực doanh nghiệp, trong khi Israel thúc đẩy đổi mới sáng tạo bằng việc hình thành mạng lưới kết nối giữa cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, nhà đầu tư và doanh nghiệp công nghệ. Điểm chung của các mô hình này là không xem thông tin như một sản phẩm truyền thông đơn thuần mà coi đó là hạ tầng của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Bắc Ninh đang từng bước vận dụng cách tiếp cận này phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương, góp phần nâng cao khả năng tiếp cận tri thức và mở rộng cơ hội phát triển cho thanh niên.
Xét trên bình diện lâu dài, giá trị lớn nhất của mô hình không nằm ở quy mô nguồn vốn hỗ trợ mà ở việc hình thành năng lực tự phát triển cho người khởi nghiệp. Trong nền kinh tế số, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp không chỉ được quyết định bởi nguồn lực tài chính mà còn phụ thuộc vào tư duy đổi mới, kỹ năng quản trị, khả năng thích ứng trước biến động của thị trường và năng lực kết nối với các chủ thể trong hệ sinh thái. Khi được trang bị đầy đủ thông tin và kỹ năng khai thác thông tin, thanh niên có thể chủ động nhận diện cơ hội, lựa chọn mô hình kinh doanh phù hợp, tiếp cận các nguồn lực cần thiết và liên tục đổi mới để nâng cao sức cạnh tranh.
Mô hình của Bắc Ninh phản ánh sự thay đổi trong tư duy phát triển khởi nghiệp theo hướng lấy năng lực của con người làm trung tâm. Thông qua việc xây dựng hệ sinh thái thông tin gắn với đào tạo, tư vấn, chuyển đổi số, kết nối chuyên gia và huy động các nguồn lực xã hội, địa phương đang từng bước chuyển trọng tâm từ hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp sang phát triển năng lực khởi nghiệp.
III. TỪ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ KHỞI NGHIỆP ĐẾN CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRẺ
Xét trên bình diện phát triển, chính sách hỗ trợ khởi nghiệp của Bắc Ninh hướng tới mục tiêu gia tăng số lượng doanh nghiệp mới, phản ánh sự chuyển dịch trong tư duy phát triển nguồn nhân lực trẻ. Sau khi mở rộng không gian phát triển và hướng tới mục tiêu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, Bắc Ninh đứng trước yêu cầu xây dựng những động lực tăng trưởng mới có tính bền vững hơn. Nếu trước đây tăng trưởng chủ yếu dựa vào thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo thì trong giai đoạn hiện nay, việc hình thành đội ngũ doanh nghiệp nội địa có năng lực đổi mới sáng tạo và lực lượng doanh nhân trẻ đang trở thành yếu tố quan trọng để nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế địa phương.
Từ góc độ này, ý nghĩa của chính sách giảm nghèo thông tin không chỉ nằm ở việc giúp thanh niên tiếp cận các chương trình hỗ trợ mà còn tạo điều kiện để họ tích lũy tri thức, nâng cao năng lực đổi mới và chủ động tham gia vào nền kinh tế số. Quá trình khởi nghiệp giúp hình thành đội ngũ doanh nhân trẻ có tư duy sáng tạo, kỹ năng quản trị, khả năng ứng dụng công nghệ và thích ứng với những biến động của thị trường.
Bên cạnh những kết quả tích cực, quá trình xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp dựa trên nền tảng giảm nghèo thông tin vẫn đặt ra một số vấn đề cần tiếp tục được nhận diện. Trước hết, khả năng tiếp cận thông tin giữa khu vực đô thị và nông thôn còn có sự chênh lệch nhất định do khác biệt về hạ tầng số và kỹ năng khai thác thông tin. Trong bối cảnh dữ liệu ngày càng trở thành nguồn lực phát triển, yêu cầu về chuẩn hóa, cập nhật và chia sẻ dữ liệu cũng trở nên cấp thiết hơn để bảo đảm thông tin có thể được khai thác hiệu quả. Bên cạnh đó, mạng lưới cố vấn, chuyên gia và các tổ chức trung gian hỗ trợ khởi nghiệp vẫn cần tiếp tục được mở rộng, trong khi sự liên kết giữa trường đại học, doanh nghiệp và cơ quan quản lý cần được tăng cường nhằm thúc đẩy chuyển giao tri thức và thương mại hóa các ý tưởng đổi mới sáng tạo.
Giai đoạn tới, giá trị của chính sách giảm nghèo thông tin sẽ được nâng lên khi được tích hợp với quá trình chuyển đổi số, phát triển dữ liệu mở, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và mở rộng mạng lưới chuyên gia trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Khi đó, thông tin không chỉ giúp thanh niên tiếp cận cơ hội khởi nghiệp mà còn góp phần hình thành năng lực học tập suốt đời, tư duy đổi mới và khả năng thích ứng trước những biến động của nền kinh tế số.
IV. KẾT LUẬN
Trong bối cảnh kinh tế số và đổi mới sáng tạo trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng, giảm nghèo thông tin cần được nhìn nhận như một chiến lược phát triển nguồn nhân lực, thay vì chỉ là hoạt động phổ biến thông tin hay truyền thông chính sách. Khi thông tin được tiếp cận đầy đủ, chính xác và gắn với năng lực khai thác, thanh niên không chỉ có thêm cơ hội khởi nghiệp mà còn nâng cao khả năng đổi mới, thích ứng và tham gia hiệu quả vào nền kinh tế tri thức.
Tại Bắc Ninh, việc kết nối thông tin với đào tạo, tư vấn, nguồn vốn, chuyển đổi số và mạng lưới chuyên gia đã góp phần hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp có tính liên kết, tạo điều kiện để các ý tưởng sáng tạo từng bước được hiện thực hóa thành doanh nghiệp. Cách tiếp cận này phản ánh sự chuyển dịch từ hỗ trợ đơn lẻ sang phát triển năng lực, qua đó nâng cao hiệu quả thực thi chính sách và thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo phát triển bền vững.
Về lâu dài, đầu tư cho khả năng tiếp cận, khai thác và sử dụng thông tin của thanh niên chính là đầu tư cho năng lực cạnh tranh của địa phương. Đây là điều kiện để hình thành đội ngũ doanh nhân trẻ có tư duy đổi mới và năng lực hội nhập, tạo nền tảng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, tăng cường nội lực của khu vực kinh tế trong nước và bổ sung động lực tăng trưởng mới. Với định hướng đó, giảm nghèo thông tin sẽ tiếp tục là một trụ cột quan trọng trong chiến lược phát triển khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững của Bắc Ninh trong giai đoạn mới./.
ThS Thân Thúy Nga
Nguồnvietnamhoinhap.vn