Rào cản thị trường ngày càng cao
Ngành lương thực, thực phẩm và nông sản chế biến của Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để mở rộng xuất khẩu và nâng cao giá trị gia tăng.
Các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới tiếp tục tạo thêm lợi thế cho hàng hóa Việt Nam khi các nước thành viên cam kết xóa bỏ 97 – 100% dòng thuế nhập khẩu đối với hàng hóa có xuất xứ Việt Nam. Đây là điều kiện quan trọng giúp nông sản Việt Nam tiếp cận thuận lợi hơn với nhiều thị trường lớn.
Tuy nhiên, mức thuế giảm về 0% không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sẽ dễ dàng có được đơn hàng. Thực tế cho thấy, các thị trường nhập khẩu ngày càng đặt ra nhiều yêu cầu khắt khe hơn về kiểm dịch động thực vật, tiêu chuẩn kỹ thuật, truy xuất nguồn gốc, môi trường và trách nhiệm xã hội.
![]() |
| Doanh nghiệp nông sản giới thiệu sản phẩm tại một chương trình xúc tiến thương mại ở TP. Hồ Chí Minh. Ảnh: Lạc Nguyên |
Theo ThS. Trần Thị Phương Hoa – Phó Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Thực phẩm TP. Hồ Chí Minh (FFA), hội nhập hiện nay không còn chỉ là câu chuyện mở rộng thị trường hay cạnh tranh bằng giá. Người tiêu dùng toàn cầu đã thay đổi tư duy khi không chỉ quan tâm đến sản phẩm cuối cùng, mà còn rất chú trọng quy trình doanh nghiệp tạo ra sản phẩm đó. Bởi vậy, tính minh bạch, trách nhiệm với cộng đồng và cam kết phát triển bền vững đang trở thành những yếu tố then chốt quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam.
Cùng đề cập vấn đề cạnh tranh, ThS. Đặng Bùi Khuê – Cố vấn cấp cao Công ty TNHH Tư vấn và Đào tạo SMP lưu ý, ưu đãi thuế quan có thể khiến một số doanh nghiệp thiếu đi sự chuẩn bị cần thiết. Thách thức lớn nhất hiện nay nằm ở các hàng rào kỹ thuật chặt chẽ của các FTA, như kiểm dịch động thực vật, tiêu chuẩn kỹ thuật, quyền lao động theo chuẩn của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học và yêu cầu về nguồn nguyên liệu hợp pháp.
Ông Khuê nhấn mạnh, doanh nghiệp cần chuẩn bị nguồn lực tài chính phù hợp để đáp ứng chi phí kiểm nghiệm và chứng nhận quốc tế. Nếu không đáp ứng được các yêu cầu này, lợi thế về thuế quan sẽ khó chuyển hóa thành lợi thế cạnh tranh thực sự.
Những yêu cầu mới của thị trường cũng đặt ra áp lực lớn đối với ngành nông sản chế biến trong nước. Vùng nguyên liệu còn thiếu ổn định, tỷ lệ chế biến sâu chưa cao, trong khi các thị trường như EU, Hoa Kỳ và Nhật Bản ngày càng siết chặt tiêu chuẩn xanh và truy xuất nguồn gốc. Điều đó cho thấy, yếu tố quyết định trong cuộc cạnh tranh xuất khẩu đã chuyển từ lợi thế về thuế sang năng lực đáp ứng các chuẩn mực quốc tế.
Tăng chế biến sâu, minh bạch chuỗi sản xuất
Dù đối mặt với nhiều rào cản, dư địa tăng trưởng của ngành nông nghiệp vẫn rất lớn. Theo mục tiêu năm 2026, xuất khẩu rau quả dự kiến đạt 9,81 tỷ USD, tăng 14,62%, trong đó sầu riêng tiếp tục là động lực chính. Xuất khẩu thủy sản được kỳ vọng đạt hơn 12 tỷ USD và cà phê hướng tới 9,64 tỷ USD. Đây đều là những nhóm hàng mà doanh nghiệp Việt Nam có thể khai thác mạnh hơn thông qua chế biến sâu và nâng cao chất lượng.
|
Sáu tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản cả nước ước đạt 35,88 tỷ USD, tăng 6% so với cùng kỳ năm 2025. Tại TP. Hồ Chí Minh, nhóm ngành lương thực – thực phẩm chiếm khoảng 30 – 35% giá trị sản xuất của vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam và 14 – 15% giá trị sản xuất công nghiệp toàn thành phố. Quý I/2026, chỉ số sản xuất công nghiệp ngành lương thực, thực phẩm của TP. Hồ Chí Minh tăng 12%, đứng thứ hai toàn ngành. |
Tuy nhiên, theo ThS. Nguyễn Lý Trường An – Phó Giám đốc Công ty TNHH Vận chuyển Thương mại Biển Xanh, ngành nông nghiệp Việt vẫn còn nhiều hạn chế trong việc tối ưu hóa giá trị tài nguyên. Tỷ lệ chế biến sâu của ngành hiện chỉ khoảng 23%. Riêng cà phê, có tới 91% sản lượng vẫn xuất khẩu dưới dạng thô.
Bên cạnh đó, tỷ lệ hao hụt rau quả sau thu hoạch ở mức 20 – 30%, cùng với áp lực từ rào cản phi thuế quan, đang làm ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Những con số này cho thấy, nếu chỉ dựa vào lợi thế nguyên liệu và ưu đãi thuế quan, nông sản Việt Nam khó nâng vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Bà Nguyễn Lê Gia Khánh – Quản lý Tài khoản cấp cao Amazon Global Selling Việt Nam cho rằng, doanh nghiệp Việt cần chủ động xây dựng thương hiệu thay vì phụ thuộc quá nhiều vào các nhà phân phối nước ngoài. Việt Nam đang dẫn đầu thế giới về xuất khẩu nhiều mặt hàng nông sản, nhưng thương hiệu của doanh nghiệp trong nước đôi khi chưa được nhận diện rõ nét vì phần lớn hàng hóa được đưa ra thị trường thông qua các kênh trung gian.
Bà Khánh đề xuất doanh nghiệp tận dụng thương mại điện tử xuyên biên giới để bán hàng trực tiếp đến người tiêu dùng toàn cầu (B2C), qua đó vừa xây dựng thương hiệu, vừa tiếp cận trực tiếp dữ liệu thị trường.
Trong bối cảnh tiêu chuẩn xanh ngày càng trở thành yêu cầu bắt buộc, TS. Hoàng Văn Việt – Nhà sáng lập, Chủ tịch Hội đồng Chiến lược Cộng đồng Doanh nhân Trí thức Toàn cầu (GIBA) cho rằng, tiêu chuẩn xanh không còn là yếu tố mang tính hình thức, mà đã trở thành năng lực cạnh tranh cốt lõi. Khách hàng tại các thị trường phát triển đòi hỏi doanh nghiệp phải có dữ liệu minh chứng thực tế cho các cam kết xanh.
Ông Việt nhấn mạnh, hướng đi bền vững là kết nối toàn bộ chuỗi giá trị, từ việc đảm bảo chất lượng tại vùng trồng, ứng dụng công nghệ chế biến sâu tại nhà máy đến thương mại hóa hiệu quả trên thị trường. Chỉ khi xây dựng được một chuỗi sản xuất minh bạch và có khả năng kiểm chứng, doanh nghiệp mới có thể đáp ứng được các yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế./.
