Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Phạm Đức Ấn cho rằng áp lực huy động vốn đang khiến việc điều hành lãi suất gặp nhiều khó khăn.
Nhu cầu vốn lớn, khả năng huy động còn hạn chế
Chiến lược phát triển kinh tế giai đoạn 2026-2030 đặt ra mục tiêu tăng trưởng GDP đầy tham vọng ở mức từ 10% trở lên mỗi năm. Để đạt được con số này, tổng vốn đầu tư toàn xã hội dự kiến cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng. Trong cơ cấu nguồn vốn này, khu vực Nhà nước dự kiến đóng góp khoảng 8,5 triệu tỷ đồng và phần còn lại khoảng 30 triệu tỷ đồng phải huy động từ các doanh nghiệp trong nước cùng khu vực FDI cũng như thị trường tài chính quốc tế.
Theo những tính toán chi tiết từ BIDV Research, quy mô vốn đầu tư bình quân cần thiết sẽ dao động từ 250 đến 260 tỷ USD/năm. Nhìn xa hơn đến năm 2045, nhu cầu vốn của nền kinh tế có thể chạm mốc 500 tỷ USD/năm. Tuy nhiên, một nghịch lý đang tồn tại là nền kinh tế Việt Nam vẫn dựa chủ yếu vào tín dụng ngân hàng khi kênh này thường xuyên gánh vác từ 50-60% tổng nguồn cung vốn. Trong khi đó, các kênh dẫn vốn dài hạn như thị trường trái phiếu doanh nghiệp chỉ chiếm khiêm tốn từ 3-6% và thị trường cổ phiếu đóng góp khoảng 10-18%.
Ông Phạm Xuân Hòe, Nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Ngân hàng, nhận định các ngân hàng thương mại đang phải gồng gánh cùng lúc ba trọng trách nặng nề là trung gian thanh toán và cung ứng vốn ngắn hạn cùng với tài trợ vốn trung dài hạn. Hệ quả của tình trạng này là bảng cân đối kế toán của hệ thống ngân hàng luôn trong trạng thái quá tải.
Bản chất của ngân hàng là huy động ngắn hạn để cho vay ngắn hạn nhưng tại Việt Nam, khoảng 80% lượng tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng trong khi dư nợ cho vay trung và dài hạn từng chiếm tới 47% tổng dư nợ.
Sự chênh lệch giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng và huy động vốn đang tạo ra một cuộc đua ngầm khốc liệt. Số liệu từ NHNN tính đến ngày 15/6 cho thấy tăng trưởng tín dụng đạt 6,35% nhưng tăng trưởng huy động vốn chỉ đạt 4,3%. Khoảng cách 2% này buộc các nhà băng phải tung mọi chiêu bài để hút tiền gửi.
Trên thị trường hiện nay, người gửi tiền rất dễ rơi vào tình trạng hoa mắt trước các mức lãi suất thực nhận. Dù lãi suất niêm yết trên website cho kỳ hạn 6 tháng chỉ quanh mức 6%/năm nhưng thực tế khách hàng có thể nhận về từ 9% đến 10%/năm thông qua các điều kiện về số dư hoặc chứng chỉ tiền gửi. Tại một ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân, khách hàng gửi từ 200 triệu đồng trở lên đã được chào mức lãi suất 8,5%/năm. Thậm chí có nơi sẵn sàng trả 9% cho khoản gửi từ 1 tỷ đồng.
Trường hợp của chị L.T.N. tại Hà Nội là một ví dụ điển hình cho sự biến tướng này. Khi tái tục khoản tiết kiệm 150 triệu đồng vào ngày 15/7, chị được thông báo lãi suất niêm yết chỉ 6%/năm. Tuy nhiên, nhân viên ngân hàng tư vấn rằng nếu chị đóng phí 500.000 đồng để tham gia chương trình hội viên thì lãi suất thực nhận sẽ vọt lên 9%/năm. Chị L.T.N. chia sẻ dù việc phải trả phí để lấy lãi suất cao khiến chị băn khoăn nhưng mức 9% cho kỳ hạn 6 tháng vẫn là con số quá hấp dẫn trong bối cảnh hiện tại.
Lời giải từ cơ chế chính sách và thị trường vốn
Tại Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp, ông Nguyễn Thanh Tùng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), đã thẳng thắn chỉ ra những vướng mắc liên quan đến việc bất cân đối nguồn vốn. Theo tính toán của nhóm kinh tế vĩ mô Vietcombank, để đạt tăng trưởng GDP 10% thì tỷ lệ đầu tư cần đạt 40% GDP nhưng tỷ lệ tiết kiệm bình quân trong nước hiện chỉ đạt 36,5%. Nếu loại trừ phần kinh tế phi chính thức thì sự thiếu hụt tích lũy trong nước còn trầm trọng hơn.
Chủ tịch Vietcombank khẳng định ngân hàng luôn tuân thủ chỉ đạo về mặt bằng lãi suất nên nguồn vốn huy động đang bị thiếu so với nhu cầu tăng trưởng. Dù chỉ số LDR của Vietcombank dưới 70%, mức rất an toàn so với trần 80% của NHNN, nhưng đơn vị này vẫn cảnh báo rằng các ngân hàng sẽ không dư dả vốn cho các dự án lớn trong tương lai.
Giải pháp tất yếu mà ông Tùng đề xuất là phải huy động nguồn vốn từ bên ngoài thông qua việc cho phép Bộ Tài chính phát hành trái phiếu quốc tế để tận dụng uy tín quốc gia nhằm có mức lãi suất tốt nhất.
Bên cạnh đó, ông cũng bày tỏ mong muốn thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp, sẽ được phát triển mạnh mẽ hơn. Hiện quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp của Việt Nam chỉ tương đương khoảng 10% GDP, thấp hơn đáng kể so với các nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia hay Trung Quốc.
Thống đốc Phạm Đức Ấn thừa nhận việc điều hành lãi suất thời gian qua là tương đối vất vả. Khi nhu cầu vốn cao mà huy động eo hẹp, lãi suất đầu vào tăng sẽ kéo theo lãi suất đầu ra tăng và gây ảnh hưởng trực tiếp đến doanh nghiệp sản xuất. Để giảm bớt áp lực, NHNN đang nỗ lực điều phối để các ngân hàng không cạnh tranh huy động vốn lẫn nhau một cách cực đoan.
Về các giải pháp dài hạn, Thống đốc cho biết đang nghiên cứu mở rộng đối tượng được vay ngoại tệ, đặc biệt là các doanh nghiệp nhập khẩu phục vụ đầu tư. Bên cạnh đó, một nút thắt quan trọng sắp được tháo gỡ thông qua Luật sửa đổi bổ sung Luật Các tổ chức tín dụng là việc cho phép ngân hàng thương mại thực hiện dịch vụ quản lý tài sản bảo đảm để doanh nghiệp phát hành trái phiếu.
Đây được kỳ vọng là bước đi đột phá vì hiện nay nhiều nhà đầu tư chưa yên tâm về tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp như bất động sản hay tài sản hình thành từ vốn vay. Chỉ khi các tổ chức tín dụng tham gia vào khâu quản lý tài sản này, thị trường trái phiếu mới có thể phát triển mạnh mẽ để gánh bớt gánh nặng vốn trung và dài hạn cho hệ thống ngân hàng.
Thanh Hoa
Nguồnvnbusiness.vn