Ngày 21/7/1944, tại khách sạn Mount Washington nằm giữa vùng núi bang New Hampshire, Mỹ, hàng trăm đại biểu bước vào chặng cuối của một hội nghị kéo dài 3 tuần. Bên ngoài, chiến tranh vẫn bao trùm châu Âu và Thái Bình Dương. Bên trong khách sạn, họ đang thiết kế trật tự kinh tế cho thế giới hậu chiến.
Hội nghị Bretton Woods chính thức diễn ra từ ngày 1 đến 22/7/1944, quy tụ 730 đại biểu đến từ 44 quốc gia. Đến ngày 22/7, các bên ký Đạo luật cuối cùng, trong đó có điều lệ thành lập Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Quốc tế Tái thiết và Phát triển, tiền thân của World Bank ngày nay.
Ít ai có thể hình dung rằng những văn kiện được hoàn thiện trong các căn phòng chật kín giấy tờ ấy sẽ tác động đến túi tiền của hàng tỷ người trong nhiều thập kỷ tiếp theo.
Thế giới cần một “luật chơi” mới
Bretton Woods ra đời từ ký ức đau đớn của giai đoạn giữa 2 cuộc thế chiến.
Sau Thế chiến I, các nền kinh tế liên tục phá giá đồng tiền để giành lợi thế xuất khẩu, dựng hàng rào thương mại và tranh giành thị trường. Những chính sách “mạnh ai nấy lo” không cứu được từng quốc gia mà còn khiến thương mại suy giảm, thất nghiệp lan rộng và cuộc Đại suy thoái trở nên trầm trọng hơn.
Vì vậy, mục tiêu của các đại biểu tại Bretton Woods không chỉ là tái thiết những đất nước bị chiến tranh tàn phá. Họ muốn xây dựng một hệ thống giúp ổn định tỷ giá, ngăn các cuộc phá giá cạnh tranh và tạo điều kiện để thương mại quốc tế phục hồi.
Hai nhân vật có ảnh hưởng lớn nhất là nhà kinh tế học Anh John Maynard Keynes và quan chức Bộ Tài chính Mỹ Harry Dexter White.
Keynes đề xuất thành lập một liên minh thanh toán toàn cầu, sử dụng đồng tiền quốc tế mới mang tên “bancor”. Theo phương án này, không đồng tiền của riêng quốc gia nào được trao đặc quyền thống trị hệ thống.
Trong khi đó, White muốn xây dựng một quỹ ổn định dựa trên vàng và tiền tệ của các nước thành viên. Cuối cùng, phương án gần với đề xuất của Mỹ được lựa chọn. Điều này phản ánh thực tế Washington khi ấy sở hữu nền kinh tế vượt trội, công nghiệp gần như không bị chiến tranh phá hủy và nắm phần lớn lượng vàng chính thức của thế giới.
Đó cũng là thời khắc đồng USD được đặt vào vị trí trung tâm.
Hội nghị Bretton Woods vào năm 1944.
Theo cơ chế Bretton Woods, các quốc gia giữ tỷ giá đồng tiền của mình tương đối cố định với USD. Đồng USD được Mỹ cam kết chuyển đổi thành vàng theo mức 35 USD/ounce. Nói cách khác, vàng là chiếc neo cuối cùng, nhưng USD trở thành chiếc cầu nối giữa vàng và phần còn lại của thế giới.
Khi một doanh nghiệp ở châu Âu nhập hàng từ châu Á, một ngân hàng trung ương cần dự trữ ngoại hối hay một chính phủ thanh toán nghĩa vụ quốc tế, USD ngày càng trở thành phương tiện thuận tiện nhất. Nhu cầu nắm giữ đồng bạc xanh vì thế lan rộng, củng cố vị thế của Mỹ trong hệ thống tài chính toàn cầu.
IMF được giao nhiệm vụ giám sát tỷ giá và hỗ trợ ngắn hạn cho những nước gặp khó khăn về cán cân thanh toán. World Bank ban đầu tập trung cấp vốn tái thiết các quốc gia bị chiến tranh tàn phá, sau đó mở rộng sang các dự án phát triển tại những nền kinh tế có thu nhập thấp hơn.
2 tổ chức này chính thức ra đời vào cuối năm 1945. Bretton Woods không chỉ tạo ra những định chế mới mà còn biến sự ổn định của đồng USD thành một phần quan trọng trong sự ổn định của kinh tế thế giới.
Hệ thống sụp đổ, USD vẫn ở lại
Nghịch lý của Bretton Woods là hệ thống càng phát triển, thế giới càng cần nhiều USD để giao dịch và dự trữ. Muốn cung cấp đủ USD, Mỹ phải chi tiêu hoặc đầu tư ra nước ngoài, đồng nghĩa lượng USD do nước ngoài nắm giữ ngày càng lớn.
Đến thập niên 1960, số USD lưu hành bên ngoài nước Mỹ tăng nhanh hơn dự trữ vàng của Washington. Các quốc gia bắt đầu nghi ngờ liệu Mỹ có thể đổi toàn bộ số tiền đó thành vàng theo mức giá đã cam kết hay không.
Ngày 15/8/1971, Tổng thống Richard Nixon đình chỉ khả năng chuyển đổi USD thành vàng. “Cửa sổ vàng” đóng lại và hệ thống tỷ giá cố định Bretton Woods dần tan rã. Đến năm 1973, tỷ giá thả nổi đã trở thành thông lệ tại nhiều nền kinh tế công nghiệp lớn.
Tuy nhiên, điều đáng chú ý là đồng USD không mất ngôi khi chiếc neo vàng biến mất.
Phần lớn hàng hoá trên thế giới cho đến nay vẫn được định giá bằng USD.
Các ngân hàng trung ương vẫn nắm giữ USD. Phần lớn hàng hóa quốc tế tiếp tục được định giá bằng đồng tiền này. Thị trường trái phiếu chính phủ Mỹ với quy mô lớn và khả năng giao dịch cao trở thành nơi cất giữ dự trữ quan trọng của nhiều quốc gia.
Theo số liệu mới nhất của IMF, tổng dự trữ ngoại hối toàn cầu đạt khoảng 13.100 tỷ USD trong quý I/2026. Trong đó, đồng USD chiếm 57,13%, vượt xa euro với 20,03% và nhân dân tệ với 1,99%.
Tỷ trọng này đã giảm so với thời kỳ đỉnh cao, nhưng vẫn cho thấy chưa có đồng tiền nào đủ sức thay thế USD trên phạm vi toàn cầu.
Quyết định xa xôi nhưng rất gần túi tiền
Di sản Bretton Woods nghe có vẻ xa vời, nhưng tác động của nó xuất hiện trong hầu hết quyết định tài chính hàng ngày.
Dầu thô và nhiều nguyên liệu được giao dịch bằng USD. Khi đồng bạc xanh tăng giá, một quốc gia phải bỏ ra nhiều nội tệ hơn để nhập khẩu cùng một lượng nhiên liệu. Chi phí vận chuyển và sản xuất có thể tăng, sau đó lan sang giá hàng hóa tại siêu thị.
Doanh nghiệp vay USD cũng phải trả chi phí lớn hơn khi đồng nội tệ mất giá. Chính phủ các nước đang phát triển có nợ bằng USD có thể phải dành thêm ngân sách để trả nợ, thu hẹp nguồn lực dành cho hạ tầng, y tế hay giáo dục.
Chính sách của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cũng vì thế lan rộng ra ngoài biên giới. Khi Fed tăng lãi suất, tài sản bằng USD trở nên hấp dẫn hơn, vốn có thể rút khỏi các thị trường mới nổi. Đồng tiền của các nước này chịu sức ép giảm giá, buộc ngân hàng trung ương địa phương cân nhắc tăng lãi suất, ngay cả khi nền kinh tế trong nước đang chậm lại.
Kết quả là một quyết định được đưa ra tại Washington có thể làm thay đổi lãi suất vay mua nhà, chi phí vốn của doanh nghiệp hoặc giá hàng nhập khẩu ở cách đó hàng nghìn kilomet.
Bretton Woods không còn tồn tại nguyên vẹn. Thế giới ngày nay có tỷ giá thả nổi, đồng euro, nhân dân tệ, tiền kỹ thuật số và ngày càng nhiều thỏa thuận thanh toán bằng đồng nội tệ.
Nhưng cấu trúc cốt lõi vẫn hiện diện khi IMF tiếp tục đóng vai trò cứu trợ những nền kinh tế gặp khủng hoảng cán cân thanh toán, World Bank vẫn là một trong những định chế phát triển lớn nhất thế giới và USD vẫn là đồng tiền dự trữ chủ đạo.
Tổng hợp
Nguồncafef.vn